Tóm Tắt Sapiens: Lược sử loài người

Chúng ta sẽ nhận được gì khi đọc cuốn sách này ư? Hãy đắm chìm trong cuộc hành trình 300.000 năm của loài người

Hãy giang rộng cả hai cánh tay của bạn ra hết mức có thể và để khoảng cách giữa chúng đại diện cho lịch sử của Trái đất. Phải bao nhiêu khoảng cách mà lịch sử loài người sẽ chiếm lĩnh? Từ cánh tay lên đến khuỷu tay, có thể không? Hay là một bàn tay? Một ngón tay? Thực ra là không một chút nào cả. Nếu bạn muốn thấy được cái không gian mà nhân loại đã chiếm lấy, bạn sẽ cần một chiếc kính hiển vi “siêu cực đại”.

Mặc dù, loài người chúng ta mới chỉ sinh tồn trong một khoảng thời gian cực kỳ ngắn, chúng ta đã đạt được rất nhiều thành tựu. Chưa từng có một loài nào khác đến để chi phối và thống trị hành tinh của chúng ta. Vậy, làm sao để tất cả điều này là có thể xảy ra?

Trong những phần tóm lược dưới đây, chúng ta sẽ khám phá những yếu tố chính trong lịch sử loài người – từ sự phát triển của ngôn ngữ cho đến việc sang tạo ra tiền – những thứ đã khiến chúng ta trở nên được như ngày nay.

Trong những phần tóm lược dưới đây, bạn sẽ được tìm hiểu:

– Tại sao việc làm nông thực sự đã làm cho mọi người trở nên tồi tệ hơn;

– Tại sao các văn bản được phát minh để đuổi theo các khoản nợ bị mất;

– Tại sao những thập kỷ vừa qua là những thập kỷ hòa bình nhất trong lịch sử.

Mặc dù không phải là những người đầu tiên, nhưng loài Người Tinh Khôn đã đến để thay thế tất cả các loài người khác trên Trái đất.

Con người chúng ta khá đặc biệt: chúng ta hoàn toàn thống trị trái đất và chúng ta thậm chí còn vượt xa ra khỏi ranh giới Trái đất để khám phá và rất có thể là xâm chiếm thêm thuộc địa, không gian.

Làm thế nào mà chúng ta có thể làm được rất nhiều việc như vậy? Để tìm ra được câu trả lời, hãy quay lại từ điểm bắt đầu, đó là sự tiến hóa của loài người chúng ta.Mục lụcẩn1 Sự tiến hóa của loài người2 Khả năng sử dụng ngôn ngữ3 Cuộc cách mạng nông nghiệp4 Phát triển chữ viết và tiền bạc5 Vậy xã hội loài người đã làm gì?6 Cuộc cách mạng khoa học7 Thời đại toàn cầu hóa8 Bước tiến trong khoa học9 Thông điệp chính trong những khám phá này:

Sự tiến hóa của loài người

Con người lần đầu tiên xuất hiện vào khoảng 2,5 triệu năm trước ở Đông Phi, phát triển từ một loài vượn lớn được gọi là Australopithecus. Những người đầu tiên này, như loài người “Homo rudolfensis” và loài “Homo erectus”(người đứng thẳng) cùng thuộc Bộ Linh Trưởng, cuối cùng đã di cư, từ bỏ Đông Phi để có một môi trường hứa hẹn hơn. Sự thích nghi với những môi trường sống mới này đã khiến họ phát triển thành nhiều loài Homo hơn, bao gồm cả loài “Homo neanderthalensis”(người Neanderthal) ở Châu Âu và Châu Á.

Tom_tat_Sapiens_Luoc_su_loai_nguoi


 Cho đến 300.000 năm trước, người hiện đại, loài “Homo sapiens” lần đầu tiên xuất hiện. Loài người mới này không có gì đặc biệt cụ thể. Đúng là họ có bộ não lớn, dáng đi thẳng, sử dụng các công cụ và có tính xã hội cao, nhưng các loài khác cũng vậy. Ví dụ, người Neanderthal đã đi săn theo quy mô lớn và sử dụng lửa từ lâu trước khi loài Homo sapiens xuất hiện.

 Hơn nữa, cho dù không có điểm gì đặc biệt về Homo sapiens, nhưng họ đã thịnh vượng và lan rộng khắp toàn cầu; và tất cả các loài người khác đã chết. Tại sao vậy?

 Có hai học thuyết để giải thích điều này: “thuyết lai” cho thấy loài Homo sapiens bắt đầu giao phối với các loài người khác – đáng chú ý nhất là Homo neanderthalensis – và điều đó dẫn đến việc loài này dần dần hợp nhất với nhau. Có bằng chứng cho thấy sự ủng hộ học thuyết này: DNA của người châu Âu hiện đại chứa từ 1 đến 4% DNA của người Neanderthal, cũng như một số DNA từ các loài người khác trước đó.

 Mặt khác, “thuyết thay thế” cho rằng loài Homo sapiens, nhờ vào kỹ năng và công nghệ hơi vượt trội của họ, đã đẩy các loài người khác đến chỗ tuyệt chủng – bằng cách lấy đi nguồn thức ăn của họ hoặc bằng cách giết chết họ một cách tàn nhẫn.

Vậy học thuyết nào có khả năng đúng nhất? Chà, cả hai đều đúng một phần: loài Homo sapiens có thể khiến các loài khác dẫn tới sự tuyệt chủng và đồng thời lai xen vào chúng.

Với “cuộc cách mạng của nhận thức”, loài Homo sapiens có được kỹ năng tư duy và giao tiếp cho phép họ có khả năng chinh phục toàn cầu.

Vậy là chúng ta vừa thấy cách mà các loài người khác bị loài Homo sapiens tuyệt chủng, và sự kết hợp của những lợi thế nhỏ đã mang lại cho Homo sapiens lợi thế. Nhưng chính xác thì điều gì đã mang lại cho họ những lợi thế này?

Câu trả lời nằm ở cấu trúc độc đáo của bộ não Homo sapiens. Khoảng 70.000 năm trước, bộ não của những người hiện đại ban đầu đã trải qua một bước nhảy tiến hóa được gọi là “Cuộc cách mạng nhận thức”. Sự phát triển này đã cho họ một sự cải thiện tương đối đột ngột về khả năng tư duy.

Với khả năng não được cải thiện, Homo sapiens đã có thể vượt trội so với đối thủ của họ. Chẳng hạn, họ bắt đầu hình thành những cộng đồng lớn hơn, tinh vi hơn; họ đã phát minh ra các hình thức công cụ và kỹ thuật săn bắn phức tạp hơn; và họ thậm chí bắt đầu thiết lập các mạng lưới thương mại nguyên thủy.

Với những lợi thế như vậy, có nghĩa là loài Homo sapiens có thể tìm thấy thức ăn và tài nguyên một cách dễ dàng hơn, ngay cả trong những môi trường khắc nghiệt nhất, dễ dàng hơn rất nhiều so với các loài người nguyên thủy khác.

Chẳng hạn, để đến được Mỹ, Homo sapiens phải có khả năng chịu được các điều kiện ở Bắc Cực của đoạn đường Siberia (Siberia passage). Vì vậy, họ đã học cách hợp tác với nhau và săn những con voi ma mút lớn chứa đầy chất có lợi cho sức khỏe, rồi tạo ra giày tuyết và quần áo ấm từ da, lông của chúng.

Cuộc cách mạng về trí tuệ này cho phép con người hiện đại phiêu lưu vào những nơi xa xôi nhất trên thế giới. Bắt đầu từ Châu Phi, rồi chúng lan rộng ra xâm chiếm Châu Âu, Châu Á, Châu Mỹ và thậm chí cả Úc.

Tuy nhiên, khi loài người lan rộng khắp toàn cầu, với kỹ thuật săn bắn được cải tiến, họ đã để lại dấu vết tuyệt chủng.

Chẳng hạn, chỉ 50.000 năm trước, Úc là nơi sinh sống của vô số động vật có vú trên cạn lớn – những con lười trên mặt đất cao 20 feet và những con Cừu có kích thước bằng những chiếc xe tải nhỏ! Thế nhưng, chỉ trong vài nghìn năm kể từ khi loài Homo sapiens đến, phần lớn những con vật này đã biến mất.

Khả năng sử dụng ngôn ngữ

Khả năng sử dụng ngôn ngữ phức tạp đã mang đến cho Homo sapiens những lợi thế lớn, cho phép họ lan rộng và phát triển mạnh.

Bạn nghĩ cái gì là minh họa tốt nhất cho sự phức tạp của con người? Đối với nhiều người, câu trả lời chính là ngôn ngữ. Ngôn ngữ của con người vô cùng phức tạp và rắc rối, đặc biệt là khi so sánh với cách giao tiếp của các loài khác.

Do đó, sẽ không có gì ngạc nhiên khi sự phát triển của ngôn ngữ phức tạp là một trong những yếu tố quan trọng nhất trong sự thống trị của loài Homo sapiens. Hãy đào sâu vào lý do tại sao đó.

Homo sapiens như những loài động vật có tính xã hội; họ sống trong các cộng đồng. Ngôn ngữ cho phép thông tin truyền tải một cách tự do giữa các cá nhân trong các cộng đồng đó, có nghĩa là những bài học quan trọng – về thực phẩm, động vật ăn thịt hoặc thậm chí là những cá nhân nguy hiểm, không đáng tin cậy trong nhóm – đều có thể được chia sẻ.

Ví dụ như bằng cách sử dụng ngôn ngữ, một người đã tìm thấy nguồn cung cấp dồi dào từ một cây ăn quả, và có thể cho người khác biết nó ở đâu. Một người nào đó đã phát hiện ra nơi ẩn náu của một kẻ săn mồi và có thể cảnh báo những người còn lại trong nhóm để tránh khu vực đó. Trong cả hai trường hợp, ngôn ngữ mang lại cho cộng đồng một lợi thế to lớn và khác biệt.

Nhưng có lẽ lợi ích lớn nhất của ngôn ngữ là nó giúp tạo ra sự hiểu biết chung giữa các thành viên trong cùng một nhóm, và đây là điều mang lại cho con người lợi thế độc nhất vô nhị của họ.

Có những loài động vật khác có thể hợp tác với số lượng lớn, như là Ong, nhưng sự hợp tác của chúng rất cứng nhắc. Chúng không thể điều chỉnh trật tự xã hội dựa trên những thay đổi trong môi trường của chúng, như những mối đe dọa mới chẳng hạn hoặc là các cơ hội mới.

Ngoài ra còn có những động vật như tinh tinh có thể hợp tác với nhau một cách linh hoạt hơn, có thể thích nghi với những thay đổi mà chúng nhận thấy. Nhưng chúng chỉ có thể hợp tác với số lượng khá nhỏ, bởi vì để hợp tác, chúng cần biết đối tượng kia một cách thân mật, và điều này thì không hề khả thi một chút nào trong các nhóm lớn.

Loài động vật duy nhất có thể hợp tác linh hoạt và với số lượng lớn là Homo sapiens. Bởi vì thông qua ngôn ngữ, họ không chỉ có thể chia sẻ thông tin về thế giới thực; họ cũng có thể thảo luận về những ý tưởng trừu tượng, như các vị thần, lịch sử và quyền lợi. Những ý tưởng này – những gì tác giả đề cập đến như những truyền thuyết – là những sáng tạo hư cấu của bộ não con người. Chúng là nền tảng của văn hóa nhân loại, và chúng chính xác là những gì cho phép họ hợp tác trong các nhóm lớn ngay cả khi họ không biết cá nhân từng người. Bằng cách chia sẻ những truyền thuyết xung quanh tôn giáo hoặc bản sắc hoặc tự do, cộng đồng của các cá nhân được rèn giũa.

Những người Homo sapiens ban đầu theo những nhóm nhỏ – khoảng 150 người. Nhưng nhờ ngôn ngữ và những truyền thuyết lan truyền, có thể tăng quy mô cộng đồng của họ theo cấp số nhân: Từ làng đến thành phố; từ thành phố đến quốc gia; và từ các quốc gia đến xã hội toàn cầu thời hiện đại.

Trong cuộc Cách mạng Nông nghiệp, con người biến đổi từ thợ rèn thành nông dân, dẫn đến tăng dân số theo cấp số nhân.

Trong phần lớn lịch sử của chúng ta, người Homo sapiens đã sống theo lối du mục. Đại đa số tổ tiên của chúng ta đã dành cả đời để săn con mồi và thu thập rau củ. Thay vì định cư ở một khu vực, họ di chuyển đến bất cứ nơi nào có thực phẩm dồi dào.

Cuộc cách mạng nông nghiệp

Nhưng khoảng 12.000 năm trước tất cả đã thay đổi. Cái mà chúng ta gọi là “Cuộc cách mạng nông nghiệp” là khi Homo sapiens ngừng chỉ dựa vào săn bắn và hái lượm, thay vào đó bắt đầu trồng trọt và thuần hóa động vật. Trong vòng 10.000 năm hoặc lâu hơn, gần như toàn bộ nhân loại đã định cư vào nông nghiệp – một sự thay đổi thực sự mang tính cách mạng.

Tom_tat_Sapiens_Luoc_su_loai_nguoi


 Và có một chút khó hiểu. Nông nghiệp có thể được coi là điều hiển nhiên vào ngày nay, nhưng thật khó để biết lý do tại sao tổ tiên đầu tiên của chúng ta lại ưa thích nó hơn cả lối sống săn bắn, hái lượm.

 Chẳng hạn như về lao động, nông nghiệp cần nhiều thời gian hơn. Trong khi một người săn bắn và hái lượm cần dành khoảng bốn giờ để thu thập đủ lương thực, trong khi một nông dân phải làm việc từ sáng đến tối trên cánh đồng của mình.

 Và kế đến mới là sự quan trọng của chất lượng thực phẩm được cung cấp. Nông nghiệp sớm cung cấp cho tổ tiên của chúng ta một phạm vi hẹp của các loại ngũ cốc mới, chẳng hạn như lúa mì, thứ mà vừa khó tiêu hóa vừa thiếu chất dinh dưỡng và vitamin. So sánh điều này với nhiều loại thịt, các loại hạt, trái cây và cá – những thứ mà một người săn bắn và hái lượm có thể thưởng thức.

 Vậy, tại sao lại phải thay đổi?

 Có hai lý do:

 Đầu tiên, sự thay đổi sang nông nghiệp là một quá trình chậm, từng chút một; với mỗi thế hệ, quá trình này trở nên ăn sâu hơn vào tiềm thức và về mặt xã hội hóa, và vào thời điểm đó các nhà sử học đã phát hiện ra những nhược điểm của nông nghiệp, nhưng đã quá muộn để quay trở lại.

 Thứ hai, cho dù có nhiều lỗi, nông nghiệp lại có một lợi thế lớn: nó hiệu quả hơn nhiều. Chỉ trên một mảnh đất nhỏ, nông dân có thể trồng một khối lượng cây ăn được. Sự gia tăng nguồn cung thực phẩm này có nghĩa là xã hội loài người có thể duy trì dân số cao hơn rất nhiều. Và do đó, dân số Homo sapiens trở nên bùng nổ.

 Nhưng sự gia tăng dân số đã tạo ra một vấn đề: làm thế nào các xã hội đối phó với sự bùng nổ dân số như vậy? Đó là những gì chúng ta sẽ khám phá trong phần tiếp theo.

 Để tạo điều kiện giao thương trong các cộng đồng lớn, con người đã phát minh ra “tiền” và “văn bản”.

 Cuộc sống trước cách mạng nông nghiệp tương đối đơn giản. Nếu bạn có ít thịt, bạn chỉ cần yêu cầu hàng xóm chia sẻ phần dư của họ với bạn. Thường xuyên hơn là họ sẽ hỗ trợ bạn, với sự hiểu biết rằng, nếu họ gặp vấn đề trong tương lai, bạn sẽ trả lại cho họ.

 Nhưng với sự phát triển của nông nghiệp, nền kinh tế ưu đãi này đã phát triển thành một hệ thống trao đổi.

 Tại sao?

 Vì hiệu quả của nó, nông nghiệp cho phép mọi người sản xuất đủ lương thực cho cả cộng đồng. Không còn chịu áp lực liên tục phải kiếm đủ cho bữa ăn tiếp theo, một số người đã phát triển các ngành nghề mới, như rèn và dệt. Để có được thực phẩm, họ đã trao đổi hàng hóa với thành phẩm sản xuất của họ – một con dao, hoặc một cái xẻng – với những người cần chúng.

 Nhưng chỉ rất sớm thì nền kinh tế trao đổi này cũng tỏ ra không thực sự đủ cho cả cộng đồng.

 Khi mà thị trường giao dịch tiếp tục phát triển, việc tìm kiếm người có vật dụng mà bạn muốn và người muốn trả lại đồ cho bạn trở nên khó khăn hơn. Ví dụ, nếu bạn đang muốn lấy một ít thịt lợn ngon từ một người nông dân để đổi lấy con dao của bạn, bạn sẽ làm gì khi anh ta đã có nhiều dao? Hay chuyện gì sẽ xảy ra nếu anh ta cần một con dao, nhưng không có con lợn nào để giết thịt? Anh ấy có thể hứa sẽ cho bạn một con lợn trong tương lai, nhưng làm thế nào để bạn biết anh ấy sẽ giữ lời?

 Đó là để đáp ứng với những vấn đề như vậy, vào khoảng 3.000 trước Công nguyên, người Homo sapiens đã phát triển chữ viết và tiền bạc.

Phát triển chữ viết và tiền bạc

 Người Sumer ở ​​Mesopotamia là những người đầu tiên làm điều này. Để lưu trữ thông tin cần thiết cho các giao dịch phức tạp, họ bắt đầu khắc các giao dịch của mọi người trên các bảng đất sét, sử dụng các biểu tượng kinh tế đơn giản. Cũng trong khoảng thời gian đó, họ bắt đầu sử dụng tiền lúa mạch như một phương thức thanh toán được tiêu chuẩn hóa.

 Bằng cách này, bạn có thể trả cho người chăn nuôi lợn bằng một loại tiền dễ dàng chuyển đổi thành bất cứ thứ gì anh ta có thể cần. Hoặc nếu anh ta hứa với bạn một con lợn, bạn có thể ghi lại giao dịch và bắt anh ta giữ lời hứa khi ngày hạn đến.

 Sự xuất hiện của các đế chế và tôn giáo đã đẩy loài người theo hướng thống nhất toàn cầu.

 Như chúng ta vừa thấy, việc phát minh ra văn bản và tiền bạc giúp cho việc thực hiện các giao dịch kinh tế trở nên dễ dàng hơn và khó thực hiện gian lận trong kinh tế hơn. Tuy vậy, điều này không có nghĩa là các nền kinh tế đột nhiên bắt đầu vào guồng rất trơn tru và hiệu quả. Trên thực tế, khi các xã hội và nền kinh tế tiếp tục phát triển, họ trở nên khó kiểm soát và điều tiết hơn.

Vậy xã hội loài người đã làm gì?

Họ đã xây dựng hệ thống luật pháp để điều chỉnh cách mọi người cư xử và cả hệ thống thẩm quyền để đảm bảo rằng mọi người tuân theo chúng. Do đó, các xã hội phân cấp đầu tiên đã ra đời, với một vị vua hoặc hoàng đế đứng đầu, cai trị mọi người khác.

 Mặc dù, vào ngày nay chúng ta thấy được là các vị vua hoặc hoàng đế đều khá là độc đoán và độc ác, nhưng các chế độ quân chủ và đế chế trong quá khứ đã cung cấp rất nhiều sự ổn định chính trị, xã hội và kinh tế. Ngoài ra, họ đã cung cấp chế độ quan liêu hiệu quả mà  đồng nhất.

 Ví dụ, hãy xem bộ luật Hammurabi, một tập hợp của các luật được ban hành bởi Vua Hammurabi người Babylon vào năm 1776 trước Công nguyên. Bộ luật là một tổ hợp các luật nhỏ hơn – bắt nguồn từ toàn bộ Đế quốc Babylon và các khu vực cai trị như thuế, trộm cắp và giết người. Bộ luật này đã thiết lập một sự nhận thức trên toàn đế chế về những gì được phép và những gì không được phép. Bất cứ nơi nào họ đi lại hoặc giao dịch trong biên giới đế quốc, mọi người đều biết phải tuân theo luật pháp và phong tục.

 Để thực thi luật pháp của mình, các hoàng đế và các vị vua cần mọi người chấp nhận thẩm quyền của họ. Điều này chủ yếu được thực hiện bởi ý nghĩa của tôn giáo. Nếu mọi người chấp nhận rằng người cai trị được đặt lên hàng đầu bởi ý chí của thần, họ sẽ chấp nhận sự cai trị của đế quốc dễ dàng hơn nhiều.

 Ví dụ, Vua Hammurabi đã hợp pháp hóa luật lệ và quy tắc của mình bằng cách tuyên bố rằng ông đã được các vị thần chỉ định để cai trị các công dân của Mesopotamia.

 Khi các đế chế lan rộng, các tôn giáo mà họ thúc đẩy phát triển cả về phạm vi và quyền lực. Đôi khi bằng vũ lực, đôi khi bằng các quá trình đồng hóa dần dần, sự cai trị của đế quốc đã xoay sở để tập hợp nhiều hơn các nhóm sắc tộc và tôn giáo đa dạng – trở thành một vài nền văn hóa lớn.

Cuộc cách mạng khoa học

Cuộc cách mạng khoa học hiện đại hóa của nhân loại, mở đường cho các công nghệ mới, chủ nghĩa đế quốc và sự tăng trưởng kinh tế

Trong hầu hết sự tồn tại của mình, loài người là một giống loài khá bi quan. Phần lớn mọi người trong suốt lịch sử đã không tin vào khả năng của mình, nhưng lại đi tin vào sức mạnh của một vị thần toàn năng. Và bởi vì thần có quyền kiểm soát mỗi con người, không có điểm nào trong những người phàm trần có thể cố gắng lĩnh hội được khoa học hoặc thu nhận được những kiến ​​thức mới. Sẽ là tốt hơn nếu chỉ ngồi một chỗ và chờ đợi số phận được xác định sẵn cho bạn.

Tuy nhiên, vào thế kỷ 16 và 17, cái thái độ bi quan này bắt đầu thay đổi. Một cuộc cách mạng khoa học quét qua châu Âu; và thay chỉ phụ thuộc vào một mình Chúa, mọi người bắt đầu nghĩ làm thế nào bản thân họ có thể cải thiện xã hội thông qua khoa học.

Bằng cách áp dụng các nguyên tắc khoa học về thăm dò, thử nghiệm và quan sát, con người đã tạo ra những bước nhảy vọt về nhận thức lý luận trong các lĩnh vực như y học, thiên văn học và vật lý – mỗi sự phát triển đều giúp xã hội trở thành một nơi tốt hơn để sống.

Lấy ví dụ như tỷ lệ tử vong trẻ em. Kể từ khi các phương pháp khoa học được áp dụng vào y học và sức khỏe cộng đồng, tỷ lệ tử vong ở trẻ em đã giảm rất nhiều. Trước đây, thông thường, ngay cả những thành viên giàu có nhất trong xã hội cũng đều mất hai hoặc ba người con trước tuổi trưởng thành. Ngày nay, tỷ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh đối với mọi người chỉ là 1 trên 1.000 người.

Cùng với việc mang lại lợi ích cho sức khỏe con người, việc theo đuổi khoa học tỏ ra có lợi cho các nền kinh tế – điều mà nhiều chính phủ châu Âu đã nhanh chóng nhận ra. Để tìm kiếm những ý tưởng và tài nguyên mới và để làm giàu cho các quốc gia của họ, các vị vua và hoàng đế đã “tắm” cho các nhà khoa học và nhà thám hiểm bằng tiền.

Chẳng hạn, Vua Castile đã tài trợ cho hành trình nổi tiếng của Columbus trên khắp Đại Tây Dương. Để đổi lại, nhà vua đã có được một đế chế khổng lồ của Mỹ với rất nhiều tài nguyên quý giá, như vàng và bạc.

Tương tự như vậy, chính phủ Anh đã cử James Cook đi khám phá Nam Thái Bình Dương (nơi mà chưa được khám phá) – một quyết định khiến cho họ đã chiếm được các vùng lãnh thổ của Úc và New Zealand.

Trong cả hai, thì các nền kinh tế châu Âu tăng trưởng là kết quả của sự thăm dò và đổi mới khoa học. Nhưng thật không may, rằng lợi ích của châu Âu chủ yếu đến từ chi phí sống của người dân bản địa.

Xã hội toàn cầu ngày nay, với niềm tin vào sức mạnh của chủ nghĩa tư bản, lại là một di sản của chủ nghĩa đế quốc châu Âu.

Chúng ta vừa phát hiện ra cách mà các phương pháp khoa học được nhiều chính phủ châu Âu sử dụng để mở rộng đế chế của họ và tăng lợi nhuận của họ. Và nó chắc chắn đã đạt hiệu quả; cho đến thế kỷ 19, một mình Đế quốc Anh chiếm hơn một nửa thế giới.

Với phạm vi rộng lớn này, các nước châu Âu đã đẩy ý tưởng của mình vào mọi nơi trên thế giới. Phong tục, văn hóa và luật pháp địa phương đã được thay thế bằng các nền văn hóa lớn dựa trên các quy tắc của châu Âu – có thể là tôn giáo phương Tây, dân chủ hoặc là khoa học nói chung. Và mặc dù các đế chế châu Âu đã chết từ lâu, chúng ta vẫn đang đối phó với sự kế thừa từ văn hóa của họ.

Cho đến nay, chuẩn mực văn hóa toàn cầu lớn nhất hiện nay là chủ nghĩa tư bản. Nhờ phần lớn vào các đế chế châu Âu, mọi người trên toàn thế giới tin vào tầm quan trọng và sức mạnh của tiền bạc.

Ngày nay, cho dù họ sống ở Brazil hay Bhutan, Canada hay Campuchia, hầu hết mọi người sống tập trung vào tiền bạc và của cải vật chất nhiều hơn; tất cả chúng ta đều muốn tối đa hóa thu nhập của mình hoặc thể hiện sự giàu có của mình qua quần áo và đồ dùng.

Trên thực tế, với sức mạnh và tầm với của chủ nghĩa tư bản, và cả với sự hỗ trợ từ khoa học, đang làm xói mòn nhiều nền văn hóa khác, đặc biệt là tôn giáo.

Khoa học hiện đại đã bác bỏ nhiều nguyên tắc tôn giáo. Chẳng hạn, hầu hết mọi người đã không còn tin rằng Chúa tạo ra thế giới trong bảy ngày; bây giờ chúng ta tin vào thuyết tiến hóa Darwin thông qua chọn lọc tự nhiên.

Khi sự xác thực của tôn giáo được đặt câu hỏi, hệ tư tưởng tư bản xuất hiện. Ví dụ, thay vì sống với niềm tin tuyệt đối là chờ đợi hạnh phúc ở thế giới bên kia, thì ngày nay chúng ta tập trung vào việc tối đa hóa niềm vui của chúng ta trên Trái đất. Điều này, tất nhiên, dẫn đến sự tìm kiếm, mua và tiêu thụ ngày càng nhiều sản phẩm và dịch vụ được thiết kế ra để làm cho chúng ta hạnh phúc hơn.

Thời đại toàn cầu hóa

Loài người chưa bao giờ đón nhận hòa bình hơn thời đại toàn cầu hóa hiện nay của chúng ta.

Ngày toàn cầu hóa được quyết định vào tháng ba. Tuy nhiên, không phải ai cũng hài lòng về điều này. Các nhà phê bình tuyên bố toàn cầu hóa, và cả những tuyên bố khác, rằng nó đang làm xói mòn sự đa dạng văn hóa, biến cả thế giới thành một thể thống nhất và đồng nhất quan điểm.

Nhưng bất chấp những lời chỉ trích như vậy, toàn cầu hóa có một lợi ích rất lớn: nó đang giúp biến thế giới thành một nơi yên bình hơn.

Các quốc gia hiện đại phụ thuộc vào nhau vì sự thịnh vượng của họ. Và trong một thế giới toàn cầu hóa, mạng lưới thương mại và đầu tư trải dài trên nhiều quốc gia khác nhau. Một cuộc chiến tranh hoặc sự bất ổn trong một lĩnh vực cụ thể sẽ có tác động kinh tế thứ cấp cho tất cả.

Do đó, hầu hết tất cả các nhà lãnh đạo của Mỹ, Châu Âu và Châu Á đều rất quan tâm đến việc duy trì hòa bình thế giới. Và, đối với hầu hết, nó đều có hiệu quả. Kể từ năm 1945, không một quốc gia độc lập được công nhận nào bị chinh phục và loại bỏ bởi một quốc gia khác. Chỉ cần xem xét thế giới đã bạo lực đến mức nào trước khi kết thúc Chiến tranh thế giới thứ hai, và nó trở nên rõ ràng rằng thế giới toàn cầu hóa của chúng ta ngày nay đã trở nên hòa bình như thế nào.

Vì vậy, thế kỷ 20 chính là thế kỷ hòa bình nhất cho đến nay. Mặc dù điều này nghe có vẻ đáng ngạc nhiên, nhưng một đánh giá nhanh về lịch sử cho thấy xã hội loài người, từ cuộc cách mạng nông nghiệp trở đi, đã “quay lưng” lại với bạo lực.

Người ta ước tính rằng, trước khi làm nông, vào thời của những người săn bắn và hái lượm, 30% tất cả người nam trưởng thành đều là nạn nhân của giết người hoặc ngộ sát. So sánh điều này với thế giới ngày nay, nơi chỉ có 1 phần trăm nam giới trưởng thành tử vong là bạo lực. Bạn có thể thấy chúng ta đã đi được bao xa.

Nhưng tại sao lại như vậy? Bởi vì các xã hội phân cấp, có cấu trúc phát triển sau cuộc cách mạng nông nghiệp đã thúc đẩy mọi người tuân theo luật cấm giết người và bạo lực, do đó tạo ra các xã hội và nền kinh tế ổn định hơn.

Vậy là chúng ta sống trong thời kỳ yên bình nhất, nhưng hãy đừng quá tin tưởng vào nó. Chúng ta phải luôn chú ý đến các sự xung đột tiềm tàng, vì sự bùng nổ của một cuộc chiến tranh quốc tế quy mô lớn ngày nay sẽ gây ra một tổn thất lớn chưa từng thấy đối với nhân loại. Hãy tận hưởng hòa bình của chúng ta, và cũng nên nhớ rằng chúng ta vẫn phải tìm cách duy trì nó.

Lịch sử không tốt cũng không xấu, và những khúc ngoặt của nó phần lớn không liên quan đến hạnh phúc chủ quan của chúng ta.

“Hành trình xuyên qua lịch sử của Homo sapiens” đã sắp đi đến hồi kết; chúng ta đã bao phủ 300.000 năm, từ những thảo nguyên Đông Phi đến thế giới toàn cầu hóa hiện đại.

Bây giờ chúng ta ít nhiều cũng hiểu được xu hướng chung đằng sau lịch sử loài người, nhưng chúng ta thực sự đã nói về điều này đã ảnh hưởng đến chúng ta như thế nào. Mặc dù sức khỏe, sự giàu có và kiến ​​thức của chúng ta đã được cải thiện rất nhiều, liệu rằng chúng ta có hạnh phúc hơn không?

Một chút thất vọng ở cấp độ cá nhân, nhưng câu trả lời có lẽ là không. Và tại sao lại không?

Các câu hỏi về sức khỏe chủ quan, được đưa ra và xem xét bởi các nhà tâm lý học, đã chỉ ra rằng, trong khi con người trải qua sự gia tăng ngắn hạn trong hạnh phúc hay nỗi buồn, về lâu dài, hạnh phúc của chúng ta dao động ở cùng một mức độ.

Chẳng hạn, nói rằng bạn mất việc và trải nghiệm việc nỗi hạnh phúc của bạn bị giảm mạnh; tại thời điểm đó, bạn đã nghĩ rằng cảm giác khủng khiếp sẽ tồn tại mãi mãi. Tuy nhiên, trong vòng vài tháng sau sự kiện lớn này, mức độ hạnh phúc của bạn có thể sẽ trở lại mức độ bình thường.

Hãy lấy một ví dụ lịch sử: trong cuộc Cách mạng Pháp, những người nông dân Pháp có lẽ đã cảm thấy hạnh phúc to lớn khi giành được tự do. Nhưng không lâu sau sự kiện đó, người nông dân bình thường có lẽ đã quay lại lo lắng về đứa con trai vô dụng của mình hoặc vụ thu hoạch năm sau.

Tom_tat_Sapiens_Luoc_su_loai_nguoi


 Homo sapiens có lẽ đã phát triển sự cân bằng này giữa sự tự mãn và tuyệt vọng để đảm bảo rằng họ không bị đánh gục bởi một sự kiện đau thương hay tự thỏa mãn đủ để ngừng phấn đấu cho những điều lớn hơn và tốt hơn.

 Vì vậy, ở cấp độ cá nhân, có lẽ chúng ta không hạnh phúc hơn nhiều. Nhưng về mức độ xã hội? Với tất cả những cải thiện về chất lượng cuộc sống, chúng ta hẳn phải hạnh phúc hơn những thế hệ trước.

 Vâng, nó phụ thuộc vào bạn là ai. Hầu hết sự thịnh vượng được tạo ra bởi sự tiến bộ của con người đã tìm được đường vào túi của một vài người đàn ông da trắng. Đối với những người ngoài nhóm này, có thể là bộ lạc bản địa, phụ nữ hoặc người da màu, cuộc sống không được cải thiện ở bất cứ nơi nào. Họ đã trở thành nạn nhân hết lần này đến lần khác bởi các thế lực lịch sử của chủ nghĩa đế quốc và chủ nghĩa tư bản, và bây giờ mới bắt đầu có được sự bình đẳng.

 Trong tương lai, Homo sapiens sẽ vượt qua giới hạn sinh học, cuối cùng tự thay thế bằng một loài hoàn toàn mới.

 Chúng ta đã biết quá khứ của chúng ta, nhưng tương lai thì sao? Đâu sẽ đi đầu trong các tiến bộ khoa học và sự thịnh vượng sẽ dẫn đến đâu trong những thập kỷ tới? Manh mối để trả lời nó nằm trong công việc mà các nhà khoa học đang thực hiện.

Bước tiến trong khoa học

 Nhà khoa học hiện đang có những bước tiến lớn trong các lĩnh vực như công nghệ cơ năng học và chống lão hóa.

 Trong lĩnh vực sinh học – sự hợp nhất của con người với máy móc – các nhà khoa học đã có những tiến bộ ấn tượng. Ví dụ, như khi Jesse Sullivan, một thợ điện người Mỹ đã bị mất cả hai cánh tay, các nhà khoa học có thể cung cấp cho anh ta những bộ phận sinh học mới mà anh ta có thể vận hành bằng cách sử dụng suy nghĩ và hệ thần kinh của mình.

 Các nhà khoa học cũng đang tiến bộ nhanh chóng trong lĩnh vực chống lão hóa. Gần đây, họ đã tìm ra một cách, thông qua việc thay đổi di truyền của nó, để tăng gấp đôi tuổi thọ của giun C. Elegans và chúng cũng khá gần với chuột. Sẽ mất bao lâu trước khi các nhà khoa học có thể trích xuất gen lão hóa từ con người?

 Cả hai dự án “ngăn chặn sự lão hóa” và “phát triển công nghệ sinh học” là một phần của Dự án Gilgamesh, một nhiệm vụ khoa học khổng lồ khám phá ra cuộc sống vĩnh cửu.

 Nhưng những gì đang ngăn chặn chúng ta? Vâng, hiện tại, nghiên cứu khoa học trong các lĩnh vực này bị hạn chế bởi các hạn chế pháp lý khác nhau dựa trên các tính chất liên quan đến đạo đức con người.

 Tuy nhiên, những rào cản này có thể kéo dài mãi mãi. Nếu loài người có được cơ hội nhỏ nhất để sống được mãi mãi, thì chắc chắn sự thôi thúc của chúng ta đến khi thành công sẽ quét sạch mọi sự cản trở.

 Có khả năng, trong một tương lai không xa, Homo sapiens của chúng ta sẽ thay đổi cơ thể mạnh mẽ thông qua khoa học, đến nỗi chúng ta sẽ không còn được coi là Homo sapiens nữa. Thay vào đó, chúng ta sẽ trở thành một loài hoàn toàn mới – nửa hữu cơ, nửa máy.

 Rất có khả năng loài siêu nhân mới này sẽ ra đời – câu hỏi thực sự duy nhất là khi nào.

Thông điệp chính trong những khám phá này:

 Trong 300.000 năm, Homo sapiens đã chuyển từ việc chỉ là một trong số nhiều loài người trở thành loài thống trị nhất từng sống trên hành tinh. Bắt đầu với sự phát triển của ngôn ngữ, nền văn minh của loài người ngày càng tinh vi hơn – dẫn đến một ngôi làng toàn cầu với sự kết nối mà chúng ta có ngày nay.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *